Top 3 Soạn bài: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi ngắn nhất

-Đối tượng của bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nói chung, có thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một tác phẩm hoặc các tác phẩm, đoạn trích khác nhau.

-Bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi thường có các nội dung:

   +Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận

   +Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.

   +Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.

ĐỀ 1:

Lập dàn ý

A.Mở bài:

Giới thiệu ngắn gọn về nhà văn Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn Tinh thần thể dục.

B.Thân bài:

a.Phân tích, chỉ ra điểm chung và nét riêng của các cảnh bắt người đi xem đá bóng…

   – Cảnh anh Mịch nhăn nhó với ông Lí.

   – Cảnh bác Phô gái phân trần với ông Lí.

   – Cảnh cụ phó Bính xin ông Lí cho thằng Sang đi thay con.

   – Cảnh thằng Cò cùng đứa con trốn vào đống rơm bị người tuần phát hiện.

   – Cuối cùng là cảnh ông Lí cùng tuần áp giải 94 người xếp hàng đi lên huyện. Phân tích mâu thuẫn giữa hình thức và thực chất của cái gọi là “tinh thần thể dục” trong truyện ngắn, từ đó nêu lên nghệ thuật trào phúng của truyện.

⇒Làm tăng tính chất trào phúng và mâu thuẫn của truyện.

b.Đặc sắc của kết cấu chuyện.

c.Đặc điểm ngôn ngữ của truyện (ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ các nhân vật).

d. Nêu giá trị hiện thực và ý nghĩa phê phán của truyện.

C.Kết bài:

Đánh giá chung về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn.

ĐỀ 2:

Lập dàn ý

A.Mở bài: Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận: nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm văn học.

B.Thân bài:

– Sự khác nhau về từ ngữ:

   + “Chữ người tử tù”: sử dụng nhiều từ Hán Việt cổ ⇒ dựng lên cảnh tượng, những con người thời phong kiến suy tàn.

   + “Hạnh phúc của một tang gia”: dùng nhiều từ phóng đại, nói ngược, nói mỉa.

⇒ tính chất giả dối, lố lăng, đồi bại của “xã hội thượng lưu”.

– Sự khác nhau về giọng văn :

   + “Chữ người tử tù”: giọng văn cổ kính trang trọng (nhất là ở cảnh cho chữ).

⇒ca ngợi những con người tài hoa, trọng thiên lương, khí phách hiên ngang.

   + Hạnh phúc của một tang gia: giọng văn mỉa mai, giễu cợt.

⇒ phê phán sự giả dối, đồi bại của đám người gọi là thượng lưu…

– Nguyên nhân sự khác nhau:

   + Chủ đề, tình cảm, tư tưởng và phong cách của tác giả chi phối.

   + Trong văn phong của Nguyễn Tuân: ông luôn chú ý, chăm chút câu chữ, chọn từ thích hợp, phản ánh cái tôi tài hoa, uyên bác >< Vũ Trọng Phụng: sử dụng ngôn ngữ đời thường, châm biếm và hài hước.

C.Kết bài

Đánh giá chung về sự khác nhau về từ ngữ và giọng điệu trong hai văn bản trên.

Gợi ý

a. Tìm hiểu đề

   – Đề bài yêu cầu nghị luận về một khía cạnh nghệ thuật trong truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc.

   – Đối tượng châm biếm, đả kích trong truyện là nhân vật nào? Vì sao? Biểu hiện của nghệ thuật châm biếm, đả kích trong tác phẩm? Tác dụng của nghệ thuật châm biếm, đả kích trong tác phẩm?

b. Lập dàn ý

A.Mở bài

– Giới thiệu về truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc – một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật truyện ngắn của tác giả.

– Giới thiệu sự thành công của nghệ thuật châm biếm, đả kích trong tác phẩm.

B.Thân bài

– Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, mục đích của tác phẩm.

– Tình huống hiểu nhầm trong tác phẩm (2 lần): đôi tình nhân nhầm tác giả là Khải Định; chính quyền thực dân. Bọn mật thám nhầm tác giả là Khải Định ⇒ thực chất là mỉa mai sự vây ráp, truy lùng của đám mật thám Pháp đối với sự hoạt động cách mạng của tác giả.

– Xây dựng chân dung nhân vật Khải Định hài hước, mỉa mai.

– Ngôn ngữ hài hước, mỉa mai,…

– Đánh giá về sự tác dụng của nghệ thuật châm biếm, đả kích trong tác phẩm: lật tẩy bộ mặt đớn hèn, bù nhìn, tay sai của Khải Định và bản chất xấu xa của bè lũ thực dân Pháp.

C. Kết bài: Khẳng định thành công của nghệ thuật châm biếm, đả kích trong tác phẩm và giá trị của tác phẩm.

Leave a Reply